Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng tham dự kỳ họp thứ 3 HĐND tỉnh khóa XI


Sáng 20/10, HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI, nhiệm kỳ 2011-2016 đã khai mạc kỳ họp thứ 3. Dự khai mạc kỳ họp có các đồng chí: Võ Văn Thưởng-UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi; Cao Khoa-Chủ tịch UBND tỉnh và các phó chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Minh Tuấn -Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam tỉnh cùng lãnh đạo các, sở, ngành trong tỉnh, cùng 54 đại biểu HĐND tỉnh khóa XI.

Phát biểu khai mạc kỳ họp, đồng chí Phạm Minh Toản-Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh: Đây là kỳ họp chuyên đề nhằm thông qua một số nội dung quan trọng, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời gian đến. Vì vậy, các đại biểu tham dự kỳ họp cần tập trung trí tuệ, nêu cao dân chủ để tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào nội dung các đề án để kỳ họp thành công tốt đẹp.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho các cá nhân.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho các cá nhân.

Tại kỳ họp này, HĐND tỉnh sẽ tập trung thảo luận 6 vấn đề quan trọng và sẽ ban hành các Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực của tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phấn đấu giảm nghèo nhanh và bền vững ở 6 huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch phát triển điện lực trên địa bàn tỉnh; Chương trình mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, Chương trình mục tiêu về việc làm giai đoạn 2011-2015 và xây dựng xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng tặng hoa và quà cho các nữ đại biểu HĐND tỉnh nhân ngày phụ nữ Việt Nam 20/10.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng tặng hoa và quà cho các nữ đại biểu HĐND tỉnh nhân ngày phụ nữ Việt Nam 20/10.

Thừa ủy nhiệm của Chủ tịch UBND tỉnh, ông Dương Văn Tô-Giám đốc Sở NN&PTNT đã đọc tờ trình về việc đề nghị thông qua đề án phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

Theo đó, tốc độ tăng trưởng bình quân nông lâm thủy sản giai đoạn 2011-2015 đạt từ 4 đến 4,5%/ năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 4%/năm, sản lượng lương thực năm 2015 là 470 ngàn tấn. Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác năm 2015 là 40 đến 45 triệu đồng.

Về kế hoạch xây dựng nông thôn mới, sẽ thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 164 xã thuộc 13 huyện của tỉnh. Phấn đấu đến năm 2015 có 33 xã và huyện Nghĩa Hành đạt tiêu chí nông thôn mới. Đến năm 2020 có 83 xã và 3 huyện đạt tiêu chí nông thôn mới. Nhu cầu vốn để thực hiện đề án này trong giai đoạn 2011-2015 là trên 6.600 tỷ đồng.

Trong sáng 20/10, các đại biểu tham dự kỳ họp cũng đã góp ý vào đề án đẩy mạnh phát triển KT-XH, phấn đấu giảm nghèo nhanh và bền vững ở 6 huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

Cũng trong buổi khai mạc kỳ họp, thừa ủy nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo tỉnh đã trao bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho 3 tập thể và 8 cá nhân thuộc HĐND tỉnh vì đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động của HĐND tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2004-2011.

Tin, ảnh: M.Toàn(Theo QuangNgai)


(Theo website Võ Văn Thưởng)

Ông Võ Văn Thưởng tham dự hội nghị biểu dương người có uy tín trong đồng bào dân tộc


Sáng ngày 19/10, tại huyện Sơn Tây đã diễn ra Hội nghị biểu dương người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số của huyện. Đồng chí Võ Văn Thưởng- Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã đến dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Trong diễn văn khai mạc hội nghị, đồng chí Phạm Tấn Hoàng- Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây đã nhiệt liệt biểu dương 112 già làng, đại diện cho hơn 18 ngàn đồng bào các dân thiểu số trong huyện đã đến dự hội nghị.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng trao đổi với các "già làng". Ảnh: T.Đ

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng trao đổi với các "già làng". Ảnh: T.Đ

Sơn Tây là huyện miền núi, nơi cộng đồng người Ca Dong sinh sống lâu đời, đây cũng là một trong 62 huyện nghèo của cả nước. Kể từ sau ngày chia huyện đến nay, huyện Sơn Tây đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, các mục tiêu kinh tế- xã hội đều đạt và vượt chỉ tiêu, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Trên các lĩnh vực văn hóa,  y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng và trật tự xã hội đều đảm bảo.

Để có được những thành quả đó, vai trò của các già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư là rất quan trọng. Chính họ đã đóng góp một phần không nhỏ để tạo ra sự chuyển biến nói trên.

Đọc báo cáo kết quả 3 năm thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phát huy vai trò của người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng chí Lê Văn Tùng- Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây, một lần nữa nhấn mạnh đến vai trò của các già làng trong việc góp phần làm thay đổi mọi mặt trong đời sống xã hội của đồng bào Ca Dong ở huyện Sơn Tây trong những năm qua.

Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nếu số diện tích lúa rẫy giảm được 469 hecta thì diện tích lúa nước tăng thêm 478 hecta, góp phần giải quyết vấn đề lương thực tại chỗ một cách căn bản.

Nhiều già làng có uy tín ở các khu dân cư đã thành những hạt nhân trong việc khai hoang canh tác lúa nước, hạn chế đốt rẫy làm nương, tăng diện tích trồng rừng. Họ cũng chính là những tấm gương trong việc gây dựng những mô hình tiêu biểu trong việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, góp phần đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo trong huyện.

Trên lĩnh vực y tế, giáo dục, các già làng cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc vận động trẻ em đến trường, xóa dần các hủ tục trong việc chữa bệnh.

Nếu như năm 1994, toàn huyện có đến 92,8% số người trong độ tuổi từ 15-35 còn mù chữ thì đến nay, huyện Sơn Tây đã hoàn thành công tác phổ cập trung học cơ sở, đây là một nỗ lực phi thường mà nếu không có sự trợ giúp tích cực của các già làng có uy tín thì cũng khó mà thực hiện được.

Trên lĩnh vực an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, Sơn Tây là một trong những huyện miền núi đã có nhiều phức tạp, nạn nghi kỵ cầm đồ thuốc độc, việc truyền đạo trái phép, nạn rượu chè bỏ bê sản xuất vẫn xuất hiện thường xuyên tại các khu dân cư. Tuy nhiên, nhờ cuộc vận động toàn dân đoàn kết, trong đó vai trò của già làng chiếm một vị trí quan trọng nên tình hình an ninh trật tự cũng như công tác quốc phòng ở Sơn Tây được ổn định.

Hội nghị cũng đã nghe 8 tham luận tiêu biểu của 8 “già làng” có uy tín nhất tại các khu dân cư. Các tham luận này thật sự là những kinh nghiệm quý báu cho hội nghị này.

Ông Đinh Văn Veo xã Sơn Tinh chia sẻ kinh nghiệm về công tác vận động nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội; ông Đinh Văn Ân, ở khu dân cư số 6, thôn Mang Tà Bể xã Sơn Bua nói về kinh nghiệm “vượt khó” của mình trong việc cho con đi học đồng thời vận động bà con trong làng cũng cho con em đến trường, hạn chế tình trạng bỏ học dẫn đến tảo hôn. Ông Ân là bố của 5 người con, và cả 5 đều học hành tốt, có người đã là giáo viên.

Ông Đinh Văn Ngăn, thôn Mang Rể xã Sơn Lập báo cáo về kinh nghiệm vận động nhân dân phát triển sản xuất và chăn nuôi; bà Đinh Thị Vui đề cập đến việc vận động nhân dân thực hiện chính sách của nhà nước về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư dự án Thủy điện Đakrinh. Đây là công trình lớn, công tác đền bù phức tạp nhưng bà Vui có cách vận động để người dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc triển khai công trình này.

Mỗi báo cáo tham luận của từng già làng là một bài học bổ ích cho tất cả mọi người, vì chính họ đã phải trả giá bằng công sức, trí tuệ của mình trong nhiều chục năm mới có được những kinh nghiệm quý báu đó. Chính những hạt nhân này đã trở thành “linh hồn” của các bản làng vùng cao trong công cuộc xua đuổi bóng đêm đói nghèo và lạc hậu.

Phát biểu với hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy bày tỏ lòng ngưỡng mộ và sự biết ơn đối với những cống hiến rất có ý nghĩa của các già làng tiêu biểu. Đồng chí cũng biểu dương những nỗ lực vượt khó của các già làng để trở thành những người có uy tín nhất, góp phần to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện Sơn Tây.

Cứ 3 năm, hội nghị “già làng” lại được tổ chức một lần. Đây không chỉ là dịp để các cấp chính quyền biểu dương những đóng góp của họ cho cộng đồng mà còn là nơi để mọi người có thể học tập được nhiều kinh nghiệm từ chính bản thân những “già làng” rất tiêu biểu và khả kính này.

TRẦN ĐĂNG(Theo Quang Ngai)


(Theo website Võ Văn Thưởng)

Ông Võ Văn Thưởng tham dự hội nghị biểu dương người có uy tín trong đồng bào dân tộc


Sáng ngày 19/10, tại huyện Sơn Tây đã diễn ra Hội nghị biểu dương người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số của huyện. Đồng chí Võ Văn Thưởng- Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã đến dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Trong diễn văn khai mạc hội nghị, đồng chí Phạm Tấn Hoàng- Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây đã nhiệt liệt biểu dương 112 già làng, đại diện cho hơn 18 ngàn đồng bào các dân thiểu số trong huyện đã đến dự hội nghị.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng trao đổi với các "già làng". Ảnh: T.Đ

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng trao đổi với các "già làng". Ảnh: T.Đ

Sơn Tây là huyện miền núi, nơi cộng đồng người Ca Dong sinh sống lâu đời, đây cũng là một trong 62 huyện nghèo của cả nước. Kể từ sau ngày chia huyện đến nay, huyện Sơn Tây đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, các mục tiêu kinh tế- xã hội đều đạt và vượt chỉ tiêu, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Trên các lĩnh vực văn hóa,  y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng và trật tự xã hội đều đảm bảo.

Để có được những thành quả đó, vai trò của các già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư là rất quan trọng. Chính họ đã đóng góp một phần không nhỏ để tạo ra sự chuyển biến nói trên.

Đọc báo cáo kết quả 3 năm thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phát huy vai trò của người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng chí Lê Văn Tùng- Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây, một lần nữa nhấn mạnh đến vai trò của các già làng trong việc góp phần làm thay đổi mọi mặt trong đời sống xã hội của đồng bào Ca Dong ở huyện Sơn Tây trong những năm qua.

Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nếu số diện tích lúa rẫy giảm được 469 hecta thì diện tích lúa nước tăng thêm 478 hecta, góp phần giải quyết vấn đề lương thực tại chỗ một cách căn bản.

Nhiều già làng có uy tín ở các khu dân cư đã thành những hạt nhân trong việc khai hoang canh tác lúa nước, hạn chế đốt rẫy làm nương, tăng diện tích trồng rừng. Họ cũng chính là những tấm gương trong việc gây dựng những mô hình tiêu biểu trong việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, góp phần đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo trong huyện.

Trên lĩnh vực y tế, giáo dục, các già làng cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc vận động trẻ em đến trường, xóa dần các hủ tục trong việc chữa bệnh.

Nếu như năm 1994, toàn huyện có đến 92,8% số người trong độ tuổi từ 15-35 còn mù chữ thì đến nay, huyện Sơn Tây đã hoàn thành công tác phổ cập trung học cơ sở, đây là một nỗ lực phi thường mà nếu không có sự trợ giúp tích cực của các già làng có uy tín thì cũng khó mà thực hiện được.

Trên lĩnh vực an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, Sơn Tây là một trong những huyện miền núi đã có nhiều phức tạp, nạn nghi kỵ cầm đồ thuốc độc, việc truyền đạo trái phép, nạn rượu chè bỏ bê sản xuất vẫn xuất hiện thường xuyên tại các khu dân cư. Tuy nhiên, nhờ cuộc vận động toàn dân đoàn kết, trong đó vai trò của già làng chiếm một vị trí quan trọng nên tình hình an ninh trật tự cũng như công tác quốc phòng ở Sơn Tây được ổn định.

Hội nghị cũng đã nghe 8 tham luận tiêu biểu của 8 “già làng” có uy tín nhất tại các khu dân cư. Các tham luận này thật sự là những kinh nghiệm quý báu cho hội nghị này.

Ông Đinh Văn Veo xã Sơn Tinh chia sẻ kinh nghiệm về công tác vận động nhân dân phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội; ông Đinh Văn Ân, ở khu dân cư số 6, thôn Mang Tà Bể xã Sơn Bua nói về kinh nghiệm “vượt khó” của mình trong việc cho con đi học đồng thời vận động bà con trong làng cũng cho con em đến trường, hạn chế tình trạng bỏ học dẫn đến tảo hôn. Ông Ân là bố của 5 người con, và cả 5 đều học hành tốt, có người đã là giáo viên.

Ông Đinh Văn Ngăn, thôn Mang Rể xã Sơn Lập báo cáo về kinh nghiệm vận động nhân dân phát triển sản xuất và chăn nuôi; bà Đinh Thị Vui đề cập đến việc vận động nhân dân thực hiện chính sách của nhà nước về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư dự án Thủy điện Đakrinh. Đây là công trình lớn, công tác đền bù phức tạp nhưng bà Vui có cách vận động để người dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc triển khai công trình này.

Mỗi báo cáo tham luận của từng già làng là một bài học bổ ích cho tất cả mọi người, vì chính họ đã phải trả giá bằng công sức, trí tuệ của mình trong nhiều chục năm mới có được những kinh nghiệm quý báu đó. Chính những hạt nhân này đã trở thành “linh hồn” của các bản làng vùng cao trong công cuộc xua đuổi bóng đêm đói nghèo và lạc hậu.

Phát biểu với hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy bày tỏ lòng ngưỡng mộ và sự biết ơn đối với những cống hiến rất có ý nghĩa của các già làng tiêu biểu. Đồng chí cũng biểu dương những nỗ lực vượt khó của các già làng để trở thành những người có uy tín nhất, góp phần to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện Sơn Tây.

Cứ 3 năm, hội nghị “già làng” lại được tổ chức một lần. Đây không chỉ là dịp để các cấp chính quyền biểu dương những đóng góp của họ cho cộng đồng mà còn là nơi để mọi người có thể học tập được nhiều kinh nghiệm từ chính bản thân những “già làng” rất tiêu biểu và khả kính này.

TRẦN ĐĂNG(Theo Quang Ngai)


(Theo website Võ Văn Thưởng)

Phóng viên tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng- vất vả và đam mê


Điều mà chúng tôi muốn đề cập đến trong bài báo này là những phóng viên tháp tùng Thủ tướng thăm các nước như chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đây đến 3 nước châu Âu: Vương quốc Hà Lan, Uzbekistan và Ukraina. Với họ, những chiếc máy quay hay máy ảnh dường như đè nặng trên vai trong suốt chặng hành trình tháp tùng Thủ tướng…

Tác giả và Đại tá Trần Nam Chương (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Công an) cùng tháp tùng Thủ tướng thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Ukraina.

Tác giả và Đại tá Trần Nam Chương (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Công an) cùng tháp tùng Thủ tướng thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Ukraina.

Làm báo thời đất nước đổi mới và hội nhập, thi thoảng tôi lại có chuyến đi tháp tùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thăm hữu nghị chính thức một số nước thuộc các châu lục; vừa mới đây là chuyến thăm ba nước châu Âu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại ba quốc gia: Vương quốc Hà Lan, Cộng hòa Uzbekistan và Ukraina.

Mỗi chuyến đi là mỗi lần tích tụ thêm kiến thức và sự hiểu biết về nền văn hóa, tiềm năng của đất nước và con người nơi đây. Qua những chuyến đi như thế thêm một lần nữa giúp chúng tôi có cơ sở để nhìn trở lại đất nước của mình để rồi sau đó là niềm tự hào, tự tôn dân tộc – một Việt Nam mà ở đầu thế kỷ trước còn chưa có tên trên bản đồ thế giới; vậy mà hôm nay được cả thế giới khâm phục, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do mà cả trong cuộc chiến chống đói nghèo và tụt hậu; một Việt Nam đổi mới, hòa bình, ổn định và thân thiện.

Phóng viên tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng .

Phóng viên tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng .

Vẫn cụm từ “chào đồng chí”

Tham gia đoàn phóng viên tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức các nước bạn bè truyền thống hàng ngày ngoài việc phải bám sát các hoạt động của Thủ tướng tại nước sở tại để thông tin cho độc giả trong nước, với tôi, tôi luôn để tâm đến các câu chuyện ngoài lề, các cử chỉ, lời nói, câu chào thể hiện tình cảm từ người đồng cấp với Thủ tướng ta.

Lần này cũng vậy, khi Thủ tướng và phu nhân vừa bước xuống sân bay quốc tế ở Thủ đô Taskent, Cộng hòa Uzbekistan, Thủ tướng chủ nhà Miziyoyev đã ra tận cầu thang máy bay đón Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tại sân bay cũng như trong phòng khách VIP của sân bay, những câu chuyện thân tình vừa mang tính xã giao, vừa ẩn chứa tình cảm nồng ấm và ở đó 2 từ “đồng chí” trong giao tiếp của 2 người đứng đầu 2 chính phủ lại có dịp được nhắc đến, khiến những người có mặt hôm ấy ai cũng thấy ấm lòng.

Điều đó xem ra cũng đúng thôi, bởi vừa đúng 20 năm sau khi Liên Xô và khối XHCN ở các nước Đông Âu tan rã, thể chế chính trị tại nước Cộng hòa Uzbekistan cũng như các nước cộng hòa khác thuộc Liên bang Xô viết đã thay đổi; giờ đây việc xưng hô với nhau là đồng chí quả thực gợi lại cho mỗi người chúng ta một tình cảm đầm ấm. Đó là mối tình vừa là đồng chí, vừa là anh em. Ấn tượng ấy khiến tôi nhớ lại cách nay vừa đúng 11 năm, vào mùa thu năm Canh Thìn, tôi cũng được cử đi tháp tùng Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải thăm 3 nước châu âu; trong đó có Liên bang Nga.

Trong những ngày ở trên đất Nga dịp ấy, theo lịch trình, Thủ tướng và phu nhân cùng các thành viên trong đoàn đã đến thăm Học viện Kinh tế Plêkhanốp ở thủ đô Moskva, nơi mà Thủ tướng từng theo học trong những năm đầu của thập kỷ 60, thế kỷ XX.Buổi sáng hôm đó, sau lễ trao Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam cho các viện sĩ, giáo sư, giám đốc học viện, cả hội trường lặng đi khi nghe các giáo sư đầu ngành ở đây phát biểu về cảm nghĩ của mình: Về nước Nga và về Việt Nam. Chúng tôi – những phóng viên Việt Nam và các bạn người Nga, ai nấy đều ngạc nhiên khi một giáo sư mở đầu bằng cụm từ: “Chào các đồng chí Việt Nam”.

Ông nói như nấc nghẹn và những cảm xúc ngập tràn bởi tình cảm đằm thắm ông đã dành cho đất nước và con người Việt Nam. Dường như phát hiện thấy mọi người ngạc nhiên khi mình đưa ra cụm từ ấy, ông chủ động giải thích: “Sở dĩ tôi muốn dùng từ “đồng chí” để mong sao những người bạn Việt Nam có mặt ở diễn đàn này thấu hiểu cho nỗi lòng của chúng tôi. Thế giới, nước Nga dù có thay đổi thế nào, song trái tim của chúng tôi vẫn coi Việt Nam là người bạn thân thiết. Chúng ta đã có với nhau hơn nửa thế kỷ chia ngọt sẻ bùi, gian khổ có nhau, vậy thì tại sao lại phải xa nhau”.Tiếp nối những tình cảm nồng hậu ấy, một giáo sư đầu ngành khác nói: “Những năm qua, từ học viện này đã có hàng nghìn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh Việt Nam tốt nghiệp, nhiều người giờ đây đã giữ những trọng trách quan trọng ở Việt Nam. Và cũng trong thời gian đó, nhiều giáo sư của Học viện đã sang công tác tại Việt Nam; giảng bài hoặc tham dự nhiều diễn đàn khác. Chúng tôi đã ăn bữa cơm Việt Nam và chia sẻ cùng Việt Nam những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Bây giờ khi theo dõi tiến trình đổi mới ở Việt Nam, chúng tôi mới hiểu ra rằng, tại sao lãnh đạo Việt Nam không đi theo con đường cải tổ ở Liên Xô trước đây? Tại sao Việt Nam từ một nước bị bao vây, cấm vận; bị chiến tranh tàn phá nặng nề mà vẫn đứng vững và vươn lên giành vị thế cao trên thương trường quốc tế? Và tại sao từ một nước hàng năm phải đi xin viện trợ lương thực từ Liên Xô trước đây, nay đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới; một quốc gia có tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất?”. Rồi ông khẳng định thay cho lời kết của mình: “Dẫu thời gian có trôi đi, thế giới dù có thay đổi như thế nào, nhưng tôi nghĩ: Hai tiếng “Liên Xô” ngày nào vẫn là một biểu tượng tốt đẹp luôn bên cạnh các đồng chí Việt Nam”.Đến lượt mình, ông Viện sĩ, Giám đốc Học viện, sau khi nhận Huy chương Hữu nghị của Nhà nước ta, xúc động nói: “Qua những năm đổi mới thành công ở Việt Nam, chúng tôi đã nghiên cứu và học tập. Rồi đây, theo kế hoạch đã đề ra, Học viện sẽ mời các chuyên gia kinh tế Việt Nam, trong đó có cả cá nhân Thủ tướng sang đọc bài giảng và trao đổi kinh nghiệm với Học viện”.

Tương tự như vậy, khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  và đoàn đại biểu Chính phủ ta đến thăm nước Cộng hòa Belarus, hai từ “đồng chí” ở đây tuy không thể hiện trên bàn Hội đàm hoặc trong các cuộc tiếp xúc tay đôi nhưng bỏ qua những thủ tục, lễ nghi mà Bộ Ngoại giao hai nước đã đệ trình, Tổng thống Lukasencô đã làm một việc khá bất ngờ so với chương trình đã được chuẩn bị sẵn từ nhà là tiếp và hội kiến với Thủ tướng ta trước khi diễn ra cuộc hội đàm chính thức giữa hai Thủ tướng hai nước. Điều thú vị là khi tiếp Thủ tướng nước ta, Tổng thống Lukasencô thổ lộ: “Trên nghi thức ngoại giao, chúng ta gọi nhau là ngài, nhưng thực chất trong lòng chúng tôi vẫn coi Việt Nam là những đồng chí, là người anh em”.

Vất vả và đam mê.

Thường thì đoàn phóng viên tháp tùng các đoàn cấp cao thăm chính thức các nước có khoảng trên dưới 20 người. Ngoài các phóng viên chuyên trách thuộc các cơ quan báo chí: Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, Hãng phim Thời sự và Tài liệu Trung ương; còn có phóng viên một vài tờ báo khác. Hoàn toàn không như một số người nghĩ, phóng viên đi tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  đơn thuần là để giải quyết “khâu oai” mà thực sự đó là những ngày tác nghiệp vất vả và đắm say, trách nhiệm và chuyên nghiệp.

Khác với đoàn doanh nghiệp và một số người trong đoàn tùy tùng, đoàn phóng viên tháp tùng Thủ tướng trước ngày lên đường đã được Vụ Thông tin báo chí (Bộ Ngoại giao) mời đến cung cấp một vài tư liệu về đất nước mà đoàn đến thăm và định hướng về công tác tuyên truyền. Đây chính là cơ sở để các cơ quan báo chí đưa đến bạn đọc những bài viết về đất nước và con người ở các quốc gia mà đoàn sẽ đến thăm.

Với các nước bạn bè truyền thống, việc làm thủ tục để nhập cảnh vào các quốc gia này không có vấn đề gì, nhưng với các nước như Hoa Kỳ thì để có được visa nhập cảnh vào đất nước họ là cả một vấn đề phức tạp và mất công đi lại để các nhân viên tòa Đại sứ Mỹ ở Hà Nội thực hiện các công việc: Từ phỏng vấn đến lấy mẫu vân tay để ken vào hộ chiếu. Người đã có một vài lần nhập cảnh vào Mỹ xem ra còn bớt đi được những thủ tục, còn với những người mới đi lần đầu theo quy định của Sứ quán Mỹ khi đến làm thủ tục xin visa vào Mỹ phải mang theo ít ra là vài loại giấy tờ như giấy đăng ký kết hôn, giấy chủ quyền nhà… Đó là chưa kể đến những đoạn trường kiểm tra, an ninh khi nhập cảnh cũng như những cung đoạn tác nghiệp trên đất nước họ, mặc dù các nhân viên an ninh Mỹ biết chắc đó là các phóng viên tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  sang thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Mỹ.

Điều mà chúng tôi muốn đề cập đến là trong đoàn phóng viên tháp tùng Thủ tướng thăm các nước như chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đây đến 3 nước châu Âu: Vương quốc Hà Lan, Uzbekistan và Ukraina thì những người vất vả nhất trong quá trình tác nghiệp ở 3 nước mà đoàn đến thăm, trước hết phải kể đến phóng viên Lê Ngọc Tuấn, phóng viên quay phim của Đài Truyền hình Việt Nam; Hoàng Dũng, phóng viên quay phim Hãng phim thời sự, tài liệu Trung ương. Với họ, chiếc máy quay nặng gần 20kg dường như đè nặng trên vai trong suốt chặng hành trình tháp tùng Thủ tướng.

Tương tự như thế Nguyễn Đức Tám, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam treo trên cổ là 2 chiếc máy ảnh với bộ ống kính dài cỡ 30cm. Dường như đã nhận rõ trách nhiệm của mình khi máy bay dừng bánh họ đã có mặt sẵn ở cửa phía sau máy bay, cửa mở, cầu thang nối ráp là họ vội vàng chạy xuống để chọn vị trí nhằm thu vào ống kính những hình ảnh đầu tiên về diễn biến của cuộc đón tiếp của phía bạn cùng đại diện cộng đồng người Việt đối với Thủ tướng và phu nhân cùng các thành viên trong đoàn. Họ cũng là người theo sát từng sự kiện, từng hoạt động của Thủ tướng trong suốt thời gian diễn ra chuyến thăm trên đất bạn.

Kết thúc ngày làm việc, các phóng viên thuộc các cơ quan báo chí tranh thủ viết tin, bài gửi về nước để kịp phục vụ độc giả thì 2 phóng viên Nguyễn Đức Tám và Lê Ngọc Tuấn cũng phải chọn và biên tập hình ảnh để phát về nước. Nhiều ngày do công việc gấp gáp, các hoạt động của Thủ tướng và các thành viên trong đoàn ken chặt và chính xác đến từng phút, có khi từ 8h sáng đến tận 10h đêm, các phóng viên tháp tùng Thủ tướng khi về đến khách sạn chỉ kịp ăn bát mì tôm rồi lại lao vào công việc. Thậm chí có ngày hoàn tất các công việc thì đã 2 hoặc 3 giờ sáng. Riêng với phóng viên ảnh Nguyễn Đức Tám có ngày quên cả tô mì tôm vào buổi trưa, anh phải đưa lên xe ôtô vừa ngồi trên xe, vừa ăn.

Còn một người nữa mà hàng ngày chạy đôn, chạy đáo để giúp các phóng viên tháp tùng Thủ tướng tác nghiệp thuận lợi là Phó Vụ trưởng Vụ Thông tin báo chí, Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng. Chính chị là đầu mối cung cấp các thông tin chính thống giữa Bộ Ngoại giao 2 nước đến với các phóng viên trong đoàn, quan hệ với các cơ quan quản lý truyền thông của nước bạn để cung cấp thêm các thông tin cho phóng viên.

Cũng như các sự kiện chính trị quan trọng diễn ra ở trong nước, những phóng viên tháp tùng các đoàn cấp cao thăm chính thức nước ngoài thường phải có mặt trước 30 phút khi sự kiện diễn ra. Nói vậy, nhưng cũng có lúc bị trục trặc do chiếc xe chở đoàn phóng viên bị kẹt xe giữa đường nên khi tới nơi thì sự kiện đã và đang diễn ra.

Để chữa cháy anh Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông và là thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ ta đã phải làm phóng viên bất đắc dĩ để ghi lại những hình ảnh Thủ tướng và các thành viên trong đoàn tham dự lễ đặt vòng hoa tại tượng đài các anh hùng liệt sĩ vô danh tại Thủ đô Kiev (Ukraina).Vất vả là thế, song những phóng viên tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ai cũng thấy vui và đắm say với công việc của mình.


(Theo website Võ Văn Thưởng)

Đồng chí Võ Văn Thưởng làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Tịnh


Sáng 13/10, đồng chí Võ Văn Thưởng – Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy cùng một số lãnh đạo các ban Đảng Tỉnh ủy đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Tịnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Đảng từ đầu năm đến nay và nhiệm vụ công tác 3 tháng cuối năm 2011.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng phát biểu tại buổi làm việc

Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng phát biểu tại buổi làm việc

Trong 9 tháng qua, công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng Đảng, an ninh quốc phòng trên địa bàn  huyện Sơn Tịnh đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tổng giá trị sản xuất ước đạt 3.293 tỷ đồng (tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nông – lâm – thủy sản đạt trên 1.000 tỷ đồng; công nghiệp – TTCN – xây dựng 1.420 tỷ đồng; thương mại – dịch vụ 870 tỷ đồng.

Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ. Đời sống của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân bảo đảm ổn định. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đặc biệt huyện đã lãnh đạo, chỉ đạo thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 trên địa bàn. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và hoạt động của Mặt trận, các hội, đoàn thể được củng cố, kiện toàn. Huyện đã hoàn thành việc học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cho các tổ chức cơ sở đảng.

Phát biểu tại buổi làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Thưởng ghi nhận những kết quả đã làm được của Sơn Tịnh trong 9 tháng qua và cho rằng với việc nhìn thẳng vào những tồn tại, yếu kém trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, Ban Thường vụ sẽ rút ra những bài học, kinh nghiệm trong thời gian tới.

Trong đó cần phải tập trung rà soát lại các chỉ tiêu chủ yếu, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chương trình giảm nghèo, xuất khẩu lao động, giải quyết các vấn đề tái định cư, đền bù giải phóng mặt bằng… Đặc biệt phải rà soát lại những điểm sạt lở ven bờ, bãi ngang, vùng trũng để có biện pháp kịp thời đối phó khi mưa bão xảy ra. Về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, huyện phải chú ý đến xây dựng tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đảng viên; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Việc đánh giá cán bộ phải nghiêm túc, thẳng thắn và không ngại va chạm. Có khách quan mới xây dựng được đội ngũ cán bộ có chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Bên cạnh đó huyện cần làm tốt công tác quy hoạch cán bộ, đảm bảo theo tinh thần “động” và “mở”; đồng thời sử dụng, bố trí cán bộ một cách phù hợp…

T.Thuận(Theo QuangNgai)


(Theo website Võ Văn Thưởng)

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thị sát phòng chống lũ lụt tại một số tỉnh phía Nam


Ngày 12/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn công tác đã đến kiểm tra tình hình phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai tại Long An, Đồng Tháp và An Giang, những tỉnh chịu thiệt hại nặng nề do đợt lũ vừa qua.

Thủ tướng thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ đang gia cố bờ bao bảo vệ sản xuất khu vực kênh Ba Ánh, xã An Bình B, thị xã Hồng Ngự

Thủ tướng thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ đang gia cố bờ bao bảo vệ sản xuất khu vực kênh Ba Ánh, xã An Bình B, thị xã Hồng Ngự

Chiều 12/10, tại thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt của 3 tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Long An nhằm đưa các giải pháp khắc phục hậu quả của lũ lụt.Thủ tướng cho rằng, so với trận lũ lịch sử năm 2000 ở đồng bằng sông Cửu Long, năm nay chúng ta cơ bản đạt được yêu cầu theo mục tiêu đề ra, nhất là đã hạn chế được số người chết và mất tích; nhà ở bị ngập lụt ở mức thấp hơn nhiều, đi liền với đó, diện tích lúa bị mất trắng cũng thấp hơn năm 2000; cụm tuyến dân cư vượt lũ được xây dựng ngày càng phát huy tác dụng.

Thủ tướng làm việc với lãnh đạo các tỉnh Đồng Tháp, Long An, An Giang

Thủ tướng làm việc với lãnh đạo các tỉnh Đồng Tháp, Long An, An Giang

Thủ tướng đánh giá cao nỗ lực của các tỉnh vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên đã tích cực đối phó với lũ lụt, xây dựng cuộc sống an toàn, bền vững cho cư dân trong những năm qua theo phương châm “Sống chung với lũ”.Nhận định tình hình lũ lụt ở các tỉnh trong vùng vẫn còn diễn biến phức tạp, đỉnh lũ vẫn ở mức cao…,

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặc biệt lưu ý các địa phương trong vùng hết sức quan tâm tới việc đảm bảo tính mạng của nhân dân, nhất là trẻ em, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, nhắc nhở các gia đình làm tốt công tác giữ trẻ, duy trì và mở rộng các điểm giữ trẻ ở khu dân cư nhằm hạn chế tốt đa thiệt hại về người. Cùng với đó, cần hết sức chú ý công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, công tác dạy và học, không để mưa lũ làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục-đào tạo.Trong sản xuất, phải bảo vệ tối đa các diện tích lúa chưa bị ngập bằng cách tiếp tục gia cố hệ thống đê bao bảo vệ ruộng đồng, chống sạt lở tuyến đê xung yếu; chuẩn bị tốt nguồn vốn, giống cây trồng, vật nuôi để tái sản xuất sau mưa lũ.

Các cấp, các ngành quan tâm hỗ trợ, chăm lo đời tốt cho sống người dân trong vùng nhất là những gia đình có nhà bị ngập, những hộ nghèo, người neo đơn…

Thủ tướng yêu cầu các địa phương tiếp tục thực hiện tốt công tác quy hoạch, xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ; quy hoạch lại sản xuất, xác định rõ vùng nào có thể sản xuất được 3 vụ, vùng nào thuận lợi cho nuôi trồng thủy hải sản. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục nghiên cứu hệ thống cấp thoát nước cho vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển hiệu quả, bền vững.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng tình với kiến nghị của các địa phương về việc Trung ương hỗ trợ kinh phí gia cố, làm bờ đập, đê trọng yếu; kinh phí hỗ trợ về giống, nguồn vốn đối với những diện tích gieo trồng lúa bị mất trắng; hỗ trợ cho các hộ nghèo có nhà bị ngập… Thủ tướng đề nghị các địa phương làm việc cụ thể với các bộ, ngành chức năng để có hướng xem xét và giải quyết.Trước đó, sáng 12/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đi kiểm tra chung tình hình lũ lụt tại một số huyện của 3 tỉnh thuộc vùng lũ đầu nguồn là Long An, Đồng Tháp và An Giang.

Thủ tướng và đoàn công tác đã thị sát các cụm tuyến dân cư vượt lũ, các xã bị ngập sâu trong lũ ở thị xã Châu Đốc và thị xã Tân Châu (An Giang) và thị xã Hồng Ngự (tỉnh Đồng Tháp).Tại thị xã Tân Châu, Thủ tướng đã động viên các chiến sỹ lực lượng vũ trang, dân phòng và nhân dân xã Tân An đang gia cố bờ đập bị sạt lở của kênh Bẩy Xã; thăm Trạm Y tế và Trường Tiểu học xã Phú Lộc.

Tại thị xã Hồng Ngự, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới kiểm tra khu vực sạt lở một đoạn đê sông Tiền tại xã Long Thuận; kiểm tra cụm tuyến dân cư vượt lũ và tới thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ đang tiến hành gia cố bờ bao bảo vệ sản xuất lúa của kênh Ba Ánh tại xã An Bình B.

(Theo Chinhphu)


(Theo website Võ Văn Thưởng)

Việt Nam – Ấn Độ: Cần đảm bảo an ninh Biển Đông


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn, an ninh và tự do hàng hải tại Biển Đông.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Manmohan Singh.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Manmohan Singh.

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Nhà nước Việt Nam tới Ấn Độ, ngày 12/10, sau lễ đón chính thức đã được tổ chức long trọng tại Phủ Tổng thống, thủ đô New Delhi, Chủ tịch nước và đoàn đã đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm lãnh tụ Mahatma Gandhi, hội kiến Thủ tướng Manmohan Singh.

Các nhà lãnh đạo hai nước đã trao đổi về tình hình kinh tế – xã hội mỗi nước, quan hệ song phương cũng như các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên bày tỏ hài lòng về mối quan hệ hữu nghị truyền thống hợp tác nhiều mặt và đối tác chiến lược tốt đẹp giữa Việt Nam và Ấn Độ đã được cố Thủ tướng Jawaharlal Neru và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng và các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước gìn giữ, vun đắp và ngày càng phát triển.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Manmohan Singh nhấn mạnh việc phát triển quan hệ hai nước là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mỗi nước, là nhân tố quan trọng để đảm bảo hòa bình và ổn định khu vực.

Hai bên nhất trí thúc đẩy hơn nữa các chuyến thăm cấp cao và các cấp; tăng cường và mở rộng nội hàm của mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện dựa trên các trụ cột chính là hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực; nhất trí tăng cường hơn nữa phát triển hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

Lãnh đạo hai nước đánh giá cao quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và Ấn Độ, nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, đầu tư, tài chính, khoa học và công nghệ, văn hóa và mở rộng các lĩnh vực hợp tác có tiềm năng khác. Hai nước nhất trí phấn đấu nâng tổng kim ngạch thương mại song phương lên 7 tỷ USD vào năm 2015.

Về các vấn đề khu vực và quốc tế, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Manmohan Singh đánh giá cao sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như diễn đàn ASEAN-Ấn Độ, sông Hằng-sông Mekong, Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị cấp cao Á-Âu (ASEM), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)…, nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác và phối hợp này trong thời gian tới.

Các nhà lãnh đạo hai nước cũng khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn, an ninh và tự do hàng hải tại Biển Đông. Hai bên nhất trí rằng các tranh chấp ở Biển Đông cần được các bên giải quyết thông qua đàm phán hòa bình trên cơ sở của luật pháp quốc tế trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982).

Kết thúc hội đàm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Manmohan Singh đã chứng kiến lễ ký kết 6 hiệp định và thỏa thuận hợp tác.

Trước cuộc hội đàm, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ S.M. Krishna đã đến chào Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại khách sạn Taj Palace. Tại cuộc tiếp, Chủ tịch nước cảm ơn Chính phủ và nhân dân Ấn Độ đã tổ chức đón tiếp trọng thể và chu đáo cho chuyến thăm, đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Ngoại giao Ấn Độ và cá nhân Ngài Bộ trưởng đối với chuyến thăm của Đoàn nói riêng và quan hệ hai nước nói chung.

Chủ tịch nước bày tỏ hài lòng về những kết quả đạt được tại các cuộc họp Tham khảo Chính trị lần thứ 5, Đối thoại Chiến lược lần thứ 2 và Ủy ban Hỗn hợp lần thứ 14 do Bộ Ngoại giao hai nước tiến hành tại Hà Nội vừa qua.

Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ bày tỏ Chính phủ và nhân dân Ấn Độ rất vinh dự được đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang thăm lần này, bày tỏ tin tưởng chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước sẽ thành công tốt đẹp, tạo nền tảng vững chắc thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước và đưa mối quan hệ đối tác chiến lược lên một tầm cao mới.

Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ S.M. Krishna khẳng định hai Bộ Ngoại giao sẽ tăng cường hơn nữa trong trao đổi tình hình và kinh nghiệm giải quyết các vấn đề quan trọng liên quan đến tình hình khu vực và quốc tế thông qua các chuyến thăm, cơ chế hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao và hoạt động ngoại giao cụ thể, kể cả hoạt động của Đại sứ quán hai nước, vì một nền hòa bình ổn định tại khu vực cũng như trên thế giới.

2012: Năm hữu nghị Việt – Ấn

Lãnh đạo hai nước cũng đã ký kết Tuyên bố chung Việt Nam – Ấn Độ, trong đó nêu rõ hai bên đã trao đổi quan điểm trong không khí thân mật, gần gũi và tin cậy về tất cả các lĩnh vực hợp tác song phương cũng như các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Hai bên nhất trí lấy năm 2012 là năm Hữu nghị Việt Nam – Ấn Độ để kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ (7/1/1972 – 7/1/2012) và 5 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược (6/7/2007 – 6/7/2012). Phía Ấn Độ cũng sẽ tổ chức “Năm Ấn Độ ở Việt Nam” trong năm 2012 với nhiều sự kiện văn hóa như biểu diễn nghệ thuật, liên hoan phim, ẩm thực và tranh ảnh ở nhiều thành phố của Việt Nam.

Hai bên đánh giá cao và nhất trí tăng cường hơn nữa các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao giữa hai nước trong thời gian tới. Hai bên lưu ý rằng tiềm năng hợp tác giữa hai nước còn lớn và nhất trí tăng cường mạnh mẽ các nội hàm của mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước dựa trên các trụ cột then chốt là hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực. Hai bên cũng đánh giá cao kết quả của kỳ họp lần thứ 14 của Uỷ ban Hỗn hợp về Hợp tác Thương mại, Kinh tế và Khoa học – Kỹ thuật cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Tham khảo chính trị lần thứ 5 và Đối thoại chiến lược lần thứ 2 cấp Thứ trưởng Ngoại giao.

Các vị lãnh đạo nhất trí làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược, tăng thêm các chương trình, dự án cụ thể và mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới, có tính đến tình hình kinh tế và chính trị đang thay đổi cả ở khu vực và quốc tế. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế – thương mại – đầu tư, tài chính, khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, văn hóa, nông – ngư nghiệp – thuỷ sản…; đồng thời phấn đấu mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực giàu tiềm năng khác như khoa học – công nghệ cao, tư pháp, y tế, thông tin – truyền thông, du lịch, thể thao, báo chí và các lĩnh vực khác mà hai nước cùng quan tâm. Hai bên hài lòng với việc thành lập Diễn đàn Doanh nghiệp Việt – Ấn, Trung tâm Đào tạo nguồn nhân lực cao cấp về công nghệ thông tin và truyền thông (ARC-ICT) và Viện nghiên cứu Ấn Độ và Tây – Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh việc Ấn Độ tuyên bố thành lập Trung tâm Văn hóa ở Hà Nội.

Ủng hộ mạnh mẽ chính sách hướng Đông của Ấn Độ

Hai bên hài lòng nhận thấy kim ngạch thương mại hai chiều thời gian gần đây tăng trưởng tốt và thâm hụt thương mại của Việt Nam bước đầu giảm xuống. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam. Hai bên nhất trí tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, khuyến khích hợp tác ở khu vực tư nhân. Hai bên đặt mục tiêu đạt 7 tỷ USD thương mại song phương vào năm 2015. Hai bên hoan nghênh việc Hiệp định Hàng hóa FTA ASEAN – Ấn Độ có hiệu lực và nhất trí hợp tác để sớm kết thúc Hiệp định FTA ASEAN – Ấn Độ về dịch vụ và đầu tư.

Hai bên hoan nghênh sự tăng cường hơn nữa hợp tác về quốc phòng – an ninh. Hai bên bày tỏ sự hài lòng với kết quả của cuộc họp Đối thoại an ninh Việt Nam – Ấn Độ lần thứ 6 cấp Thứ trưởng Quốc phòng, việc thiết lập cơ chế đối thoại 2 năm một lần về các vấn đề an ninh giữa Bộ Nội vụ Ấn Độ và Bộ Công an Việt Nam và nhất trí hợp tác để sớm hoàn thành Trung tâm In-đi-ra Găng-đi khôi phục dữ liệu, chứng cứ tội phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phía Việt Nam hoan nghênh đề nghị huấn luyện và nâng cao năng lực cho lực lượng công an Việt Nam.

Hai bên đánh giá cao việc ký kết Hiệp định dẫn độ tội phạm, Bản ghi nhớ về “Năm Hữu nghị Việt Nam – Ấn Độ 2012”, Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Dầu khí Ấn Độ (ONGC), Chương trình hành động 2011-2013 về nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, Chương trình giao lưu văn hóa Việt Nam – Ấn Độ 2011-2014, Nghị định thư về văn hóa năm 2012 và nhất trí thúc đẩy việc đàm phán để sớm ký kết các văn bản hợp tác trên các lĩnh vực khác như đã thỏa thuận trong kỳ họp lần thứ 14 của Ủy ban hỗn hợp về hợp tác thương mại, kinh tế và khoa học – kỹ thuật.

Phía việt Nam hoan nghênh công bố của Thủ tướng Ấn Độ tăng số học bổng ITEC từ 75 lên 150 từ năm 2012.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Ấn Độ trong thời gian qua, coi đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác tốt đẹp giữa hai nước. Chính phủ Ấn Độ đồng ý sẽ cung cấp cho Việt Nam các khoản tín dụng mới với điều kiện thuận lợi hơn đối với các dự án về cơ sở hạ tầng, dầu khí, điện và truyền tải điện và các lĩnh vực Việt Nam có yêu cầu; trước hết xem xét dành riêng cho Việt Nam một khoản tín dụng.

Các vị lãnh đạo khẳng định lại mong muốn và quyết tâm hợp tác vì hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới và nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong hợp tác ASEAN – Ấn Độ và sông Mekong – sông Hằng cũng như tại EAS, ASEM, ARF, WTO, Liên hợp quốc và Không liên kết. Phía Việt Nam khẳng định lại sự ủng hộ mạnh mẽ của mình đối với Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và việc Ấn Độ tăng cường quan hệ với ASEAN. Phía Ấn Độ chúc mừng Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò chủ tịch ASEAN năm 2010, cảm ơn sự ủng hộ của Việt Nam đối với việc Ấn Độ trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bản an Liên hợp quốc mở rộng và Dự thảo Nghị quyết ngắn của G-4 về cải tổ Liên hợp quốc.

Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và việc đảm bảo an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở biển cả. Hai bên nhất trí cho rằng tranh chấp trên Biển Đông cần được các bên liên quan giải quyết thông qua các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002.

Hai bên nhất trí gia tăng hợp tác trong lĩnh vực tăng cường năng lực, giúp đỡ kỹ thuật và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan của hai nước nhằm đảm bảo an ninh hàng hải, trong đó có việc chống cướp biển, ngăn chặn ô nhiễm và tìm kiếm cứu hộ v.v… trên biển.

H.Anh(Theo VietNamnet)


(Theo website Võ Văn Thưởng)